Các tin tức hoạt động của hợp phần LMPA

Tham quan học tập kinh nghiệm tại khu bảo tồn biển Bunaken và Madano(Indonexia)

   Ngày 03/02/2009, Cục trưởng Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản đã ký Quyết định số 23/QĐ-KTBVNL về việc cử đoàn cán bộ đi công tác tại Indonesia để tham quan, học tập kinh nghiệm tại Khu bảo tồn biển Bunaken (Indonesia) từ 07/02 đến 14/02/2009. Đây là một nội dung nằm trong đầu ra 6, mục tiêu 3 kế hoạch hoạt động của Hợp phần sinh kế bên trong và xung quanh các khu bảo tồn biển (LMPA). Theo đó, “Việt Nam cam kết đầy đủ với những nỗ lực quốc tế nhắm thiết lập một mạng lưới các khu bảo tồn biển toàn cầu và trao đổi kinh nghiệm về giảm khả năng dễ tổn thương của các cộng đồng địa phương”.
    Mục tiêu của chuyến tham quan, học tập nhằm tìm hiểu, chia sẻ kinh nghiệm quản lý, phát triển du lịch bền vững, kinh nghiệm giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển tại khu bảo tồn biển.
Thành phần đoàn gồm có 8 thành viên, gồm: cán bộ của Cục khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam, Chủ tịch UBND huyện Cồn Cỏ (Quảng Trị), Trưởng phòng Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường - Vườn Quốc gia Núi Chúa (Ninh Thuận), Phó Chủ tịch UBND xã Hòn Thơm (nơi có Khu bảo tồn biển Phú Quốc) và cán bộ thuộc Hợp phần LMPA. 

 

Sơ lược về Vườn quốc gia Bunaken:

      Vườn quốc gia Bunaken nằm ở phía Bắc đảo Sulawesi là 1 trong 5 đảo lớn ở Indonesia, có chiều dài theo đường bộ là hơn 2.000 km, đường chim bay dài 700 km. Đảo có hình chữ K và xung quanh hoàn toàn là biển. Đảo có nhiều núi lửa, trong đó có 6 núi lửa đang hoạt động ở trong phạm vi Vườn quốc gia. Trên đảo có hơn 20 sắc tộc với hơn 20 ngôn ngữ khác nhau, trong đó có 18 ngôn ngữ có chữ viết.
     Vườn Quốc gia Bunaken có diện tích khoảng 90.000 km2 chia làm 2 khu: phía Bắc bao gồm 5 đảo và có thành phố Manado; phía Nam bao gồm một số địa phương thuộc vùng Minahasa và một số thuộc vùng Nam Minahasa. Toàn bộ Vườn quốc gia có 24 khu dân cư (làng), với khoảng 30.000 dân sinh sống. Hiện tại, vườn có 3 hệ sinh thái điển hình với độ đa dạng sinh học cao, gồm: rạn san hô, cỏ biển và rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn và hệ sinh thái trên đảo do kiểm lâm của vườn quản lý. Ban quản lý bảo tồn biển chỉ quản lý phần biển.
    Ban quản lý Vườn Quốc gia đã thành lập Ban Tư vấn, bao gồm 19 thành viên, trong đó có 10 thành viên là cán bộ thuộc các cơ quan nhà nước, số còn lại là đại diện cộng đồng địa phương, trường đại học, các hội nghề nghiệp (du lịch).

 

 

 
 Khu bảo tồn biển Bunaken  Rừng ngập mặn

 

    Trong chuyến tham quan, đoàn đã có các cuộc họp thảo luận, trao đổi thông tin với đại diện Ban quản lý, cộng đồng địa phương và một số đơn vị của Vườn Quốc gia Bunaken; Nghe WWF Indonesia báo cáo về các hoạt động hỗ trợ Vườn quốc gia Bunaken trong công tác bảo tồn biển; Đại diện Vườn quốc gia Bunaken báo cáo về chức năng, nhiệm vụ của Vườn Quốc gia Bunaken; Cộng đồng trình bày về các hoạt động của diễn đàn; Trình bày về tổ chức và cách thức hoạt động của nhóm tư nhân thuộc Hiệp hội thể thao dưới nước Bắc Sulawesi và của Khoa Thủy sản Trường đại học Sam Rutulangi.

 

Đoàn tham quan Tại môt buổi họp

 

    Trong chuyến tham quan, đoàn cũng đã thực địa Vườn Quốc gia Bunaken để quan sát rạn san hô, thăm Trung tâm du khách trên đảo Bunaken, thăm khu bảo vệ rừng ngập mặn tại phía nam Vườn quốc gia và các khu phát triển du lịch sinh thái tiềm năng.

 

Tàu đi thực địa Dịch vụ du lịch
   
Nghỉ trưa ở nơi thực địa Đoàn cán bộ Việt Nam ở khu bảo tồn

 

    Chuyến tham quan học tập đã cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho các thành viên trong đoàn như: Sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ địa phương là rất quan trọng đối với việc quản lý hiệu quả của một khu bảo tồn biển (MPA). Tuy nhiên, việc xây dựng mối quan hệ đối tác với tất cả các bên liên quan là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải được tạo điều kiện thuận lợi đi liền với việc nâng cao năng lực hoạt động. Ở Indonesia, Hội đồng tư vấn của Vườn quốc gia Bunaken bao gồm đại diện của cộng đồng địa phương và một nhà nghiên cứu từ trường đại học trong khi ở Việt Nam, cơ quan chỉ đạo tương đương chỉ nằm tại các cơ quan thuộc Chính phủ. Việc cộng đồng địa phương và các bên liên quan khác tham gia vào quá trình quản lý là thiết yếu và họ nên được tạo cơ hội thể hiện quan điểm của mình. Bên cạnh đó, cần có sự phân định vai trò, trách nhiệm rõ ràng trong việc quản lý, bảo tồn, cần có sự chia sẻ quan điểm về các kết quả và mục tiêu đề ra.
    Kinh nghiệm được rút ra cũng cho thấy, mặc dù thu nhập từ việc thu phí vào cổng để phục vụ cho công tác bảo tồn là khả quan nhưng nguồn tài trợ cho việc quản lý MPA vẫn cần được đẩy mạnh và đa dạng hóa. Chỉ dựa vào một nguồn duy nhất là rất nguy hiểm. Việc khai thác du lịch biển phải phụ thuộc vào các hệ sinh thái khỏe mạnh và được quản lý tốt nên sẽ không khó để thuyết phục các nhà tài trợ hỗ trợ cho các hoạt động quản lý và bảo tồn. Bên cạnh đó, các cộng đồng địa phương cũng cần được hưởng một phần lợi nhuận từ phát triển du lịch biển để họ có ý thức và trách nhiệm trong việc tham gia bảo tồn các nguồn lợi từ biển.
    Hy vọng sau chuyến tham quan học tập đầy bổ ích tại Indonesia, những bài học kinh nghiệm nêu trên sẽ được xem xét, nghiên cứu và đưa vào áp dụng trong quản lý các khu bản tồn biển ở Việt Nam một cách phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất.